kết quả từ 1 tới 8 trên 8
  1. #1

    Vì sao gọi Huế là đất Thần Kinh ?

    Vì sao gọi Huế là đất Thần Kinh?

    Gọi là đất Thần Kinh, là do hai chữ KINH ĐÔ và THẦN BÍ ghép lại mà thành. Như vậy Huế là một Kinh Đô Thần Bí do hai sự kiện lịch sử sau đây :

    1. - Sự kiện thứ nhất xảy ra vào năm 1558. Sau khi Trịnh kiểm anh rể của Nguyễn Hoàng sát hại Nguyễn Uông anh ruột của Nguyễn Hoàng, Nguyễn Hoàng bèn đến gặp Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm để xin ý kiến hầu tìm cách đối phó.

    Nhìn về hướng Nam, Trạng Trình chỉ thốt một lời " Hoành Sơn Nhất Đái, Vạn Đại Dung Thân ". Hiểu ý, Nguyễn Hoàng xin Trịnh Kiểm cho mình vào nam làm trấn thủ đất Thuận Hoá để xa lánh hiểm họa không biết lúc nào sẽ xảy ra cho mình. Sự nghiệp của nhà Nguyễn ở phương nam bắt đầu từ đấy, và kéo dài 400 năm, núp bóng giải Hoành Sơn rồi lan rộng khắp cả Nam Kỳ.

    2. Sự kiện thứ hai , khá huyền hoặc. Trong một giấc mơ, chúa Nguyễn Hoàng thấy một bà lão mặc sắc phục đỏ, tự xưng là Thái Thượng Lão Quân, bảo Nguyễn Hoàng đi về hướng đông khoảng ba dặm để lập kinh đô. Đêm hôm ấy, chúa Nguyễn Hoàng cùng đoàn tùy tùng nghỉ chân ở một địa điểm trên bờ Sông Hương, cách Huế khoảng 5 cây số về phía tây. Sáng hôm sau, chúa Nguyễn Hoàng di chuyển về hướng đông như bà lão trong mộng đã bảo, và quả thật, sau mấy dặm đường, chúa Nguyễn Hoàng đã bị thu hút bởi cảnh trí tuyệt vời như thiên nhiên đã dành sẵn cho ông. Ngoài cái đẹp của sông núi hữu tình, chắc chắn ông và các cố vấn của ông còn "phát hiện" được những lý do địa lý mà thời ấy mọi người đều tin tưởng, và hy vọng rằng đây là một vùng đất tốt, một "địa linh nhơn kiệt" đáng được chọn làm nơi thiết lập bản doanh của chúa Nguyễn Hoàng lúc bấy giờ, và sau này là kinh đô của cả nước.

    Lời tiên tri của Trạng Trình, lời báo mộng của Thái Thượng Lão Quân quả đã báo trước sự nghiệp lâu dài 400 của nhà Nguyễn và cũng là 400 năm của cố đô Huế. Một ngôi chùa nổi tiếng được Nguyễn Hoàng cho xây cất ngay tại nơi báo mộng để tưỏng niệm Lão Quân mang tên chùa Thiên Mụ, hay còn được gọi là Linh Mụ. Ngôi chùa này được khởi công xây cất năm 1601 và đến năm 1841 thì được chỉnh trang và mở rộng, đồng thời xây thêm cái tháp cao ở sân trước chùa. Nhờ được chăm sóc kỹ lưỡng qua các thời đại, đến nay ngôi chùa đó vẫn còn vững chắc, và đã trở thành danh lam thắng cảnh , và di tích lịch sử của Việt Nam.

    Đó là lý do tại sao Huế còn được gọi là đất Thần Kinh.


    * Trích nguyên văn từ: (http://www.forum.festivalhue.com/f94...an-kinh-49530/)



    Huế... ơi!... ta nhớ muôn đời !
    Bóng trăng hồ sen trong Hoàng Thành.
    Tiếng chuông từng đêm Thiên Mụ buồn.
    Ta nhớ muôn đời...
    Người con gái Huế quá... xinh
    Tóc mây ngang lưng trữ tình….

  2. #2

    Con đường áo dài giữ nét cố đô


    (Dân trí) - Cũng như sự trường tồn của sông Hương, núi Ngự… áo dài Huế là nét đặc trưng của đất cố đô vẫn được lưu truyền và gìn giữ cho đến ngày nay.


    Mỗi lần có dịp đi ngang con đường Bến Nghé (Phường Phú Hội, TP Huế), du khách sẽ được chiêm ngưỡng một con đường áo dài với nhiều màu sắc, hoa văn rực rỡ. Nơi đây có đến hàng chục gian hàng trưng bày vải và các áo dài truyền thống với đủ mọi chất liệu và kiểu dáng như: Gấm, lụa, voan kính…

    Các tiệm may áo dài nằm san sát nhau.

    Chị Bích Thủy, một chủ tiệm may trên đường Bến Nghé cho biết: “Một chiếc áo dài may chỉ trong thời gian một đến hai ngày. Hiện nay có rất nhiều kiểu dáng mà các bạn trẻ ưa thích như áo dài suôn, áo cách điệu cổ tròn, vạt áo cao… để tiện mặc và đi lại”.

    Điều đặc biệt ở các quán may áo dài hầu hết là nam giới. Để làm nên một chiếc áo dài người thợ phải tỉ mỉ cho từng khâu như chọn vải, màu vải, chất vải rồi sau đó mới khâu kỹ thuật tạo hình, cắt may.

    Nhiều loại mẫu vải cho du khách lựa chọn.

    Không chỉ người dân Huế đến mua mà bất kể ai, dù là khách du lịch ghé thăm tiệm may đều được các chủ quán tận tình chỉ bảo cách lựa chọn áo dài truyền thống: áo dài ôm sát lấy người, vạt dài đến mắt cá chân, cổ vuông thấp hoặc cao vừa phải, quần rộng. Có thể rất mơ hồ, nhưng trong những chiếc áo dài Huế, có một vẻ gì đó vừa kiêu sa vừa đài các và dịu dàng của những bước chân cung đình.

    Cũng như đặc sản của từng vùng, mỗi lần du khách đến Huế khi ra về cũng đều mua về cho mình hay có thể cho người thân một bộ áo dài xứ Huế. Có những người không phù hợp với mẫu mã thì cũng mua cho mình vài mét vải may áo dài về làm quà.


    Các lớp vải được xếp theo nhiều kiểu hình đẹp mắt.

    “Áo dài là nét riêng của Huế. Thế nhưng cuộc sống hiện đại ngày nay, khó có thể tìm thấy bóng dáng những cô gái Huế yểu điệu thướt tha trong tà áo dài tím trên phố xá. Vì thế, để giữ nét truyền thống của đất cố đô này, chúng tôi luôn tìm cách gìn giữ và phát huy nét đẹp này, để mỗi du khách đến Huế đều cảm nhận được vẻ đẹp thướt tha của chiếc áo dài truyền thống xứ Huế”, anh Hào, chủ tiệm may Trương Anh Hào, tâm sự.
    Lê Dương



    thay đổi nội dung bởi: chiase_bannhe, 14-07-2010 lúc 12:48 AM
    Huế... ơi!... ta nhớ muôn đời !
    Bóng trăng hồ sen trong Hoàng Thành.
    Tiếng chuông từng đêm Thiên Mụ buồn.
    Ta nhớ muôn đời...
    Người con gái Huế quá... xinh
    Tóc mây ngang lưng trữ tình….

  3. #3
    Tham gia ngày
    Sep 2009
    Nơi Cư Ngụ
    Huế city
    Bài gửi
    640
    Ở Huế bây giờ có thêm đường Mai Thúc Loan cũng là con đường áo dài, mấy lần về Huế thấy cảnn xích lô chở khách du lịch ghé mua tấp nập làm tăng cái nhộn nhịp hẳn con đường Nội thành, có điều mấy cửa hàng này tranh dành khách bằng cách trích % cho taxi, xích lô nên giá bán cao hơn làm mất hình ảnh, thiện cảm của khách du lịch, không chỉ mấy của hàng này mà những cửa hàng bán đặc sản Huế đều làm thế, chán lắm. Có dịp ra Huế các bác ghé xem em nói có đúng không?
    “...Khi bạn không thể đáp trả lòng tốt cho người nào đó, hãy làm điều tốt cho một người khác ”

  4. túm lại là vì sao lại gọi như vậy? Giải thích dài dòng quá

  5. #5
    Là kinh đô thần bí đó!
    Vì cuộc đời này không riêng cho ai, nào cùng mọi người ta vui đêm nay...

  6. #6
    Trích Nguyên văn bởi chiase_bannhe View Post
    Vì sao gọi Huế là đất Thần Kinh?

    Gọi là đất Thần Kinh, là do hai chữ KINH ĐÔ và THẦN BÍ ghép lại mà thành. Như vậy Huế là một Kinh Đô Thần Bí do hai sự kiện lịch sử sau đây:

    1. - Sự kiện thứ nhất xảy ra vào năm 1558. ... <Nhìn về hướng Nam, Trạng Trình chỉ thốt một lời " Hoành Sơn Nhất Đái, Vạn Đại Dung Thân ">. ...

    2. Sự kiện thứ hai , khá huyền hoặc. Trong một giấc mơ, chúa Nguyễn Hoàng thấy một bà lão mặc sắc phục đỏ, <tự xưng là Thái Thượng Lão Quân, bảo Nguyễn Hoàng đi về hướng đông khoảng ba dặm để lập kinh đô>.

    Lời tiên tri của Trạng Trình, <lời báo mộng của Thái Thượng Lão Quân> quả đã báo trước sự nghiệp lâu dài 400 của nhà Nguyễn và cũng là 400 năm của cố đô Huế. Một ngôi chùa nổi tiếng được Nguyễn Hoàng cho xây cất ngay tại nơi báo mộng <để tưỏng niệm Lão Quân> mang tên chùa Thiên Mụ, hay còn được gọi là Linh Mụ.
    Đó là lý do tại sao Huế còn được gọi là đất Thần Kinh.


    * Trích nguyên văn từ: (http://www.forum.festivalhue.com/f94...an-kinh-49530/)

    Non nước Thần Kinh xứ Huế tui lớn lên và mặc nhiên yêu Huế chẳng cần biết vì sao. Hôm nay đọc ý này tự nhiên giựt nảy mình vì lịch sử được các trang mạng loan đi ngày càng xa với những gì mà ngày xưa chúng tôi biết qua dân gia và sách vở sau này.

    Ví dụ:

    1. Trạng Trình:
    Trạng Trình không có chảnh mà nhìn về Nam phán như vậy đâu, vả lại nghe nói thế thì Trịnh Kiểm có thịt ông không khi đã bỏ thế sự đi ẩn cư mà còn xui nguyên giục bị? Theo mơ hồ trí nhớ của tui, Trịnh Kiểm anh rể Nguyễn Hoàng, cả hai đều rất giỏi và có ý triệt nhau làm chúa. Vì lịch sử Việt Nam giai đoạn này biến thiên rõ rệt tư tưởng Hồ Quý Ly về cách mạng xã hội và mô hình Trịnh kiểm thủ tướng điều hành, Vua Lê quốc trưởng là rất chi là "ngon lành cành đào". Khi cha là Nguyễn Kim bị giết mà nghi án do con rể âm mưu, Nguyễn Hoàng đến gặp Trạng Trình ở Bạch Vân Am và bối cảnh lúc đó Trạng Trình ngồi uống trà trước hòn giả sơn nhìn đàn kiến bò lên sau núi trùng trùng điệp điệp. Ngài nói một mình (lẩm bẩm) "Hoành sơn nhứt đái vạn đại dung thân". Ngài nói câu ấy 2 nghĩa, ngụ ý rằng mình + Nguyễn Hoàng đều có thể bỏ quan tước lên núi ẩn cư "ta dại ta tìm nơi vắng vẻ". Nguyễn Hoàng đầy chí khí và tham vọng "người khôn người đến chốn lao xao" cũng nhìn đàn kiến nghĩ quân, tự hiểu rằng nên qua phía bên kia miền "độc khí": đi chẳng có về, man di mọi rợ, biên cương hoang vu - "thương anh em cũng muốn vô - sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang" ấy mà quyết xin anh rể cho vào trấn nhậm.

    2. Chùa Thiên Mụ:
    "2- LỊCH SỬ CHÙA THIÊN MỤ
    2.1- Về sự tích:
    Về lịch sử của chùa Thiên Mụ thì có nhiều truyền thuyết kể lại như:


    -Theo Bách khoa Tự điển và các mạng lưới điện tử về Huế thì khi Nguyễn Hoàng được chúa Trịnh cho vào làm Trấn thủ xứ Thuận Hóa kiêm trấn thủ Quảng Nam, ông đã có mưu đồ mở mang cơ nghiệp và xây dựng một giang sơn riêng cho mình. Trong một lần dạo mát bên bờ sông Hương, Nguyễn Hoàng gặp một ngọn đồi nhỏ có tên là Hà Khê nhô lên bên dòng nước trong xanh uốn khúc, thế đất như hình một con rồng đang quay đầu nhìn lại. Tiến thêm một đoạn đường, ông gặp dân địa phương và qua câu chuyện dân kể lại nơi đây ban đêm thường có một bà lão mặc áo đỏ quần lam xuất hiện trên đồi. Bà ta nói cho họ biết: “Rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến lập nghiệp và xây chùa trên đất long mạch, kết tụ linh khí thì nước Nam sẽ hùng mạnh.”

    Nghe dân kể như vậy, Nguyễn Hoàng tự cho mình là chân chúa và xây ngôi chùa vào năm 1601 để cho phù hợp với câu chuyện.

    -Theo quyển “Từ điển địa danh văn hóa và thắng cảnh VN” thì sự tích có vẻ ly kỳ hơn:
    “… Bấy giờ, sau hơn 6 năm ở kinh đô Thăng Long, giữ chức Thái Bảo, Nguyễn Hoàng trở về Thuận Hóa xây dựng thế lực để biệt lập với họ Trịnh. Một hôm, nhân rỗi việc, Nguyễn Hoàng đi thăm các nơi núi sông cảnh đẹp trong bản trấn. Khi đến xã Hà Khê, huyện Kim Trà, thấy giữa chốn đồng bằng đột khởi một đồi cao tựa đầu rồng, đang nhìn về núi mẹ. Đoan Quốc Công thầm khen là nơi danh thắng, bèn trèo lên đồi cao ngắm khắp xung quanh. Chợt thấy một đoạn hào cắt ngang dưới chân núi, chưa rõ nguyên do ra sao. Nguyễn Hoàng sai hỏi người địa phương. Các bô lão nói: “Tương truyền núi này rất linh thiêng, Cao Biền (nhà Đường) sang làm An Nam Sứ, từng đi khắp nơi ở nước ta xem nơi nào có vượng khí thì lập phép trấn yểm. Đêm hôm ấy, Cao Biền chiêm bao thấy một bà lão đầu tóc bạc phơ ngồi dưới chân núi này kêu gào than vãn, rồi cất tiếng nói to: “Đời sau nếu có bậc quốc chủ muốn bồi đắp mạch núi này để làm mạnh cho Nam triều, thì nên lập chùa thờ Phật, cầu linh khí trở về giúp nước yên dân, tất không có sự gì đáng phải lo ngại”. Nói xong bà lão biến mất. Dân địa phương từ đó đặt tên núi là Thiên Mụ (bà lão nhà trời). Nguyễn Hoàng nghe nói cả mừng, bảo rằng: “Ấy là bà lão trời bảo ta mở nền định đất, biến nhà thành nước để gây nghiệp lớn”. Nói đoạn, sai người cất dựng chùa Phật, tự tay viết biển đề tên chùa là “Thiên Mụ tự”.

    Chùa Thiên Mụ nằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5km về phía tây. Về lịch sử, trước khi có chùa Thiên Mụ thì trên đồi Hà Khê đã có ngôi chùa cũng mang tên Thiên Mỗ hoặc Thiên Mẫu của người Chăm (Chàm). Di tích này được nhắc đến trong “Ô Châu Cận Lục” của ông Dương Văn An vào năm 1553. Sau Nguyễn Hoàng xây rộng lớn hơn hay phá chùa cũ để xây chùa Thiên Mụ không thấy tài liệu nói rõ.

    Năm 1862, vua Tựï Đức bị bệnh bất lực, có vợ và hàng chục Cung tần Mỹ nữ mà không có con. Để cầu cho có người nối dõi tông đường, vua cũng tin nhảm, sợ nói tới chữ “Thiên” phạm đến “Ông Trời” nên đổi tên “Thiên Mụ” thành “Linh Mụ”, có nghĩa “Bà mụ Linh thiêng”.


    Tuy nhiên, vấn đề kiêng nhảm chỉ tồn tại từ năm 1862 cho tới năm 1869.

    Sau đó, người ta quen gọi cả hai tên: chùa Thiên Mụ và chùa Linh Mụ. Lý do cũng dễ hiểu vì chữ “Linh” đồng nghĩa với “Thiêng”, âm người Huế khi nói “Thiên” nghe tựa “Thiêng”, nên khi nói “Linh Mụ”, “Thiên Mụ” hay “Thiêng Mụ” đều có nghĩa giống nhau mà không sợ bị bắt bẻ.
    ------
    Xin đọc trọn bài của trang Thiên Chúa - những trang viết thường khép kín chủ quan với tôn giáo mình - viết khá rõ ràng để thấy tính khách quan sử liệu về chùa. http://danchua.eu/2303.0.html?&tx_ttnews[tt_news]=5069&cHash=3db86b93a5

    Thứ nữa: theo Tiểu luận về chùa Thiên Mụ của Minh Đức Triều tâm Ảnh (sư Giới Đức chùa Huyền Không) và lịch sử vừa nói trên ta sẽ thấy sự suy diễn Thái Thượng Lão Quân là hoàn toàn bịa đặt và nhìn sự vật hiện tại để tưởng tượng quá khứ

    B. Thử đi tìm cái gì tương hợp và cái gì không tương hợp
    Chắc chắn các nhà chuyên môn, khảo sát, tư vấn đã bóc tách các trụ biểu , tam quan và một số nơi khác để suy luận, thẩm tra niên đại. Với kiến thức, kinh nghiệm, bề dày chuyên môn, kỹ thuật tân tiến hiện nay, họ làm được điều ấy, và làm rất giỏi, rất bài bản là khác.
    Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu, chỉ đạo và người thực hiện sẽ va vấp những khó khăn sau đây:

    1. Chùa Thiên Mụ trước đây là của triều đình, phục vụ cho triều đình. Qua các vua và chúa triều Nguyễn, mặc dầu thỉnh thoảng có vài vị bỏ phế, không quan tâm, nhưng đa phần đều được chăm sóc, gìn giữ, tu sửa. Nhưng các phù điêu, hoa văn, họa tiết trang trí trên nền vôi vữa, trên đá, trên gỗ, bích họa, đắp nổi về các hệ đề tài thực vật, động vật, vũ trụ, thiên nhiên... đều mô phỏng kiểu dáng, phong cách vàng son, huy hoàng, lộng lẫy của cung đình. Từ thời Minh Mạng về sau, từ Thiệu Trị đến Khải Định, nghệ thuật trang trí ấy đã lên đến đỉnh cao về giá trị mỹ thuật. Điều đó cũng dễ hiểu, hợp tình, hợp lý vì chùa vốn là quốc tự; và các vị Tăng Cang được hưởng lương triều đình. Nhưng nếu ta phục chế chùa Linh Mụ hiện nay, giống với một ngôi chùa vào thời vua chúa ấy, chẳng biết có còn thích hợp với một “ngôi chùa thờ Phật thuần túy” nữa không?

    2. Quan niệm “tam giáo đồng nguyên” từ thời Lý, Trần vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm suốt chiều dài lịch sử các chúa và vua triều Nguyễn. Tư tưởng ấy chỉ đúng vào thời...mà nhà vua muốn gom góp, quy tụ toàn bộ sức mạnh mọi tầng lớp xã hội, đoàn kết nhất thống tất thảy mọi dị biệt của tư tưởng Nho, Phật, Lão... để chống thế lực xâm lược Nguyên Mông.

    Mục đích của lịch sử là đúng nhưng các thời đại kế thừa quan niệm ấy thì sai. Họ lặp lại tư tưởng của cổ nhân mà không chịu học hỏi, chiêm nghiệm chuyên sâu ba nền tảng giáo thuyết: chỗ nào là đồng, chỗ nào là dị?

    Sự tồn tại sai lầm ấy len thấm vào ca dao, tục ngữ, văn thơ, hội họa, kiến trúc và cả nơi chốn thờ phượng đã mấy thế kỷ rồi.

    Chúa Nguyễn Phúc Chu có lẽ là người Phật tử thuần thành nhất, thọ Bồ tát giới với Hòa thượng Thạch Liêm; nhưng Ngài có hiệu là Thiên Túng đạo nhân. Có lẽ sự học Phật của ông ta cũng mơ hồ sắc sắc không không nên lẫn lộn giữa Phật và Đạo ngay chính nơi đạo hiệu của mình.

    Vua Thiệu trị đổ biết bao công lao, tâm huyết vẽ đồ họa kiến trúc và xây dựng tháp Phước Duyên... thì cũng xem Phật như ông thần hộ mạng là cùng!

    Vì lí do ấy, tất cả các chùa chiền trước năm 1945, và hiện nay còn rất nhiều chùa người ta thờ Phật chung với Thái Thượng Lão Quân, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Quan Công, Mẫu Vân Nương, Liễu Hạnh... đôi nơi thờ cả Tôn Ngộ Không!

    Các ngôi chùa vào thời đó, các phù điêu, họa tiết, bích họa, trang trí các hệ đề tài cũng thường lẫn lộn, không phân biệt rõ ràng đâu là biểu tượng của dân gian, biểu tượng cung đình, đâu là biểu tượng của Nho, của Phật, của Lão.

    Ta có thể đưa ra một ví dụ cụ thể về “bát bửu”. Bát bửu là tám vật báu có giá trị biểu tượng thường để chuyển tải một loại ngôn ngữ ẩn dụ kín đáo, mang chức năng truyền đạt quan niệm, sở thích, xu hướng lẫn cả tâm hồn của con người và thời đại, mà, các nghệ nhân thường đưa vào các kiểu thức trang trí tỉ mỉ, tinh vi, xảo diệu. “Bát bửu” ấy có Bát bửu của dân gian, Bát bửu của Nho, Bát bửu của Phật, bát bửu của Lão."
    -------------------
    Đọc thêm ở đây nè bà con: http://www.trungtamhotong.org/NoiDun...nhMu/index.htm

    Vài dòng minh định với bà con vậy nhé - Cái dzụ tranh cãi hoài nghi của chúng ta cũng có ở đây nè ôn Chiase_bannhe: http://vozforums.com/archive/index.php/t-1001220.html


    Nguoinhaque

    Cánh hoa rụng chọn gì đất sạch

  7. #7
    chà. nhớ nhà quá rồi....

  8. #8
    Những bài viết hay....
    Quảng Nam hay cãi<br />Quãng Ngãi hay lo<br />Bình Định hay co<br />..............

Thông tin bài viết

Users Browsing this Thread

Hiện tại có 1 đang xem bài viết này. (0 thành viên và 1 khách.)

Similar Threads

  1. Lão thợ thêu bậc nhất Kinh kỳ
    By chiase_bannhe in forum Tản mạn về Huế
    Trả lời: 0
    Bài mới gửi: 08-03-2010, 04:28 PM
  2. Mỗi nhà vườn trùng tu, tôn tạo được hỗ trợ 70% kinh phí
    By le van quy in forum Huế trên từng cây số
    Trả lời: 0
    Bài mới gửi: 12-11-2009, 07:17 PM
  3. Sự nỗ lực đáng kinh ngạc
    By truongtien in forum Nghệ thuật sống
    Trả lời: 0
    Bài mới gửi: 12-01-2009, 03:40 AM
  4. Kinh Thật
    By Haison in forum Vui cười - Thư giãn
    Trả lời: 1
    Bài mới gửi: 18-10-2007, 11:37 AM

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •